3. CHƯƠNG I: Thăng Long Con Người và Lịch Sử
* Thăng Long thời Lư
* Thăng Long thời Trần
* Đông Đô và Đông Quan
* Thăng Long thời Nguyễn đổi thành Hà Nội
* Hà Nội thời Hồ
Lịch sử Thăng Long bắt nguồn từ thời kỳ những bản anh hùng ca... cách nay 1000 năm, nơi đây diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, được ghi trong các bộ sử của Việt Nam: Xây dựng Văn Miếu (1070), mở Quốc Tử Giám (1067); xây dựng Bí Thư Các đầu tiên (1087); Thành lập Quốc Sử Viện (1272) đời nhà Trần, Hàn Lâm viện đời Lê... gần 1000 năm Thăng Long Hà Nội là Thủ đô, nơi có truyền thống văn hiến dân tộc lâu đời.
Kinh thành này vang bóng một thời quá khứ, nơi đây có rất nhiều điểm gợi nhớ khác nhau: một hồ Hoàn Kiếm, một Tháp Rùa*, Chùa Một Cột, G̣ Đống Đa mồ chôn quân xâm lược Trung Quốc...
Về sự tích Hồ Gươm, câu chuyện vua Lê sau khi đánh thắng giặc Tầu đă hoàn trả thanh Bảo Kiếm cho Thần Rùa trên hồ Lục Thủy giữa kinh thành Thăng Long. Từ đó hồ mang tên Hoàn Kiếm (hồ Trả Gươm hay hồ Gươm).
(*Về truyền thuyết Thần Rùa (Thần Kim Quy) đă hai lần xuất hiện. Lần đầu tiên vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên đă cho An Dương Vương mượn hai linh khí để đánh giặc, giữ nước. Đó là thanh Bảo Kiếm Tinh Trắng xây thành Cổ Loa và chiếc móng của ḿnh để làm Nỏ Thần, đánh quân xâm lược Triệu Đà lần thứ hai là sứ giả của Đức Long Quân xuất hiện trên Hồ Lục Thủy để nhận lại thanh Bảo Kiếm mà vua Lê trao trả sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm lấy lại giang sơn gấm vóc cho quốc gia Đại Việt.)
Ḷng nhân không có biên giới, không có giới hạn không gian và thời gian. Tổng thống Hoa Kỳ George Washington năm 1776 tuyên bố câu nổi tiếng: “Gươm đao là giải pháp cuối cùng để bảo vệ sự tự do của chúng ta, v́ thế phải là vật đầu tiên cần phải dỡ bỏ khi sự tự do ấy đă được thiết lập vững vàng”.
Chúng ta có thể tự hào nói rằng: Không ở đâu trên mặt quả địa cầu này có giống người mà ḷng nhân từ, độ lượng khoan dung như người Việt Nam. Quân Nguyên Mông sang xâm chiếm nước ta 3 lần, lần thứ nhất (1257), lần thứ hai (1285), lần thứ ba (1288) đi đến đâu chúng cũng tàn phá, giết chóc hủy diệt dă man, khai quật cả mồ vua Trần Thái Tông (Chiêu Lăng). Khi giặc thua, hầu hết các tướng soái như Tích Lệ Cơ, Ô Mă Nhi, Phàn Tiếp, Đường Đột Ngăi, Mai Thế Anh, Xầm Đoan, A Thái, Diêm Nguyên Soái v.v... cùng sáu vạn quân Nguyên bị bắt đều được vua ta khoan hồng, cấp lương thực phương tiện cho về nước. Đến quân nhà Minh sang cướp nước ta năm 1410 – 1413 th́ sự tàn bạo và dă man c̣n vượt xa quân Nguyên. Thế mà khi chúng thua, Vua ta c̣n hạ lệnh cho quân dân tỉnh Bắc Giang, Lạng Giang sửa cầu đắp đường, lại hạ lệnh cho lộ quân thủy: chuẩn bị thuyền bè, buồm chèo lương thực đưa quân Tầu về nước. Tất cả các tướng lănh nhà Minh bị bắt đều được thả.
Những thời kỳ vàng son với những chiến thắng lẫy lừng như vậy do các vương triều hùng mạnh, đứng đầu bởi các vị hoàng đế anh minh sáng suốt. Lại thiết tha chiêu lập hiền tài bằng mọi biện pháp: Thi cử, tiến cử, phát hiện và xử lư, thưởng phạt nghiêm minh rơ ràng, không định kiến thiên vị... cùng với tinh thần phục vụ dân tộc vô điều kiện. Có lẽ v́ thế các ngài đă tập hợp được lực lượng hùng hậu, làm nên bao chiến công huy hoàng, đánh thắng những quân đội thiện chiến rất hung dữ nhất thế giới thời đó làm cho quân thù cũng phải nể sợ.
Người cha đẻ của Thăng Long
Nhà Lư định đô ở Thăng Long năm 1010. Vua Lư Thái Tổ tuyên bố rơ ḷng quả quyết: “Nhân dân Việt Nam xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập, với ư chí sắt đá bất chấp tất cả bọn xâm lược phương Bắc”. Việc dời đô về Thăng Long, Vua thấy đất Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp, không thể mở mang làm nơi đô hội trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế được, bèn dời đô ra thành Đại La, Hà Nội bây giờ. Đây là thành cũ của Cao Biền, h́nh thể núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa.
Trong Chiếu thiên đô Vua nói: “Thành Đại La ở chính giữa thiên hạ, là nơi trung tâm của bốn phương. Nhân vật phồn thịnh! Xem khắp nước Việt đó là thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư măi muôn đời.”
Trong sách “Vân Đài Loại Ngữ” Lê Quí Đôn nhận xét: “Kinh đô đặt ở Long biên giữa khoảng hai phủ Thường Tín và Quốc Oai. Phía Tây bắc chiếm dọc theo núi. Phía đông nam có sông to ngăn trở, thật là một nơi đô hội đủ cả về đường thủy và đường bộ. Phía tây th́ có những phủ Lâm Thao, Đoan Hùng, Đà Dương và hai xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa.
Phía chính bắc là một xứ Thái Nguyên sản xuất ngọc, đá quư, vàng, bạc, đồng, thiếc, ch́, sắt, tre, gỗ, củi than, cung cấp đủ nhu cầu cho công và tư, lại có trà, thóc, giấy, dầu, mè, cam, quít, các sản vật thổ nghi như khoai, đậu, củ mài, lúa, bắp, dưới nước có nhiều cá, ba ba, cua đinh…
Phía tây có phủ Ứng Thiên, Quảng Oai. Phía Bắc có phủ Thuận an, Từ sơn.
Phía đông có hai phủ Hồng (Thượng Hồng và Hạ Hồng) và Sách (Nam Sách) đồng ruộng mầu mỡ.
Phía Nam có những phủ Tiên Hưng, Khoái Châu, Lư Nhân, Thiên Trường, Kiên Xương, Thái B́nh, Nghĩa Hưng, rất thích nghi với lúa chiêm, đất đai mầu mỡ hàng ngàn dặm, ruộng bằng muôn khoảnh, một năm hai mùa, mỗi mẫu thu lợi được hơn hai trăm quan. Nhân dân ở bờ biển no đủ về cá, gạo, muối, đời sống tốt đẹp, lại có mối lợi về cói lác, trai ṣ tốt và ngon, đó là chưa kể vào món thuế ao đầm, sông rạch. Ở phía đông Kinh Môn Phủ và lộ An Quảng lại nhiều cá muối, cây gỗ, châu ngọc đồi mồi, là nơi thuyền biển tụ tập, hàng hóa ngoại quốc lưu thông ở các cửa quan và chợ búa được tiện lợi đủ thay thế cho thuế má.
Ở phía tây bắc có phủ Lạng Giang và xứ Lạng Sơn có nhiều ḷ nung đất, ruộng đất cũng phong phú.
Phía tây nam có hai trấn to là Thanh Hóa, Nghệ An sản xuất những loại cây to như gỗ lim, gỗ sến, gỗ táu, quế, trầm hương, đàn hương, cau, sừng tây, da tây, sừng voi, da voi, vàng bạc, đồng sắt v.v…
Phía tây Nghệ An ăn thông với các nước Bồn Man, Lăo Qua, Cao Miên, trâu ḅ được chuyển đến bán cho ta.
Kinh đô Thăng Long “Lại quay mặt ra biển và qua những trấn Hải Dương, An Quảng ở phía Đông Nam, có trấn Nghệ An, lại ở phía tây nam, phía tả biển cả ở trấn An Quảng là Khâm Châu. Ở phía Khâm Châu, một khu đất chênh vênh ở giữa biển là Quảng Nhai. Phía tả núi Hoàng Sơn ở trấn Nghệ An là Thuận Hóa. Ở phía hữu Thuận Hóa, Quảng Nam là nước Chiêm Thành.
Căn cứ vào đây th́ Thuận Hóa, Quảng Nam và Chiêm Thành là quá cung làm con hổ viễn án. C̣n Hải Nam là một minh đường, nghĩa là: chỗ nước chung tụ ở trước huyệt lộ theo phong thủy lớn ở phía ngoài quốc độ, mạch lạc, hùng vĩ, xa rộng, h́nh thể bao la đáng là vương kinh thiên phủ.
Ở vào thế “rồng cuốn, hổ ngồi” chính giữa Nam, Bắc, Đông, Tây, Thăng Long đă hội đủ mọi tinh hoa của đất nước đương thời.
Chính v́ vậy Thăng Long đă trở thành trung tâm của Châu Thổ Sông Hồng và của nước Đại Việt.
Thăng Long chiếm một vị trí đặc biệt trong lịch sử phát triển nền văn minh văn hóa dân tộc, ảnh hưởng của nó bao trùm đối với sự phát triển mọi mặt. Đồng thời kinh đô Thăng Long c̣n là kho điển tích, là nguồn cung cấp đề tài và tư liệu lịch sử không bao giờ cạn: thơ văn, anh hùng, trong vườn hoa văn hóa muôn sắc muôn mầu ấy. Thăng Long như một chiếc nôi của nền văn hiến Việt Nam, nó tiêu biểu cho sức sống dân tộc và h́nh như có sự giao cảm giữa con người và cảnh vật.
Thủ đô xưa nay vẫn là trung tâm của đời sống sinh hoạt văn hóa, tinh thần của mỗi quốc gia.
Thăng Long không phải là kinh đô đẹp nhất trần gian mà người ta được thấy, Thăng Long cũng không phải là đô thành cổ nhất thế giới nhưng nó đă ra đời trước hàng trăm kinh đô khác trên thế giới.
Về h́nh thể cũng như đặc điểm, thủ đô Thăng Long của Việt Nam không hề giống bất kỳ một đô thành nào trên thế giới. Thoáng nh́n bên ngoài, xét về mặt lịch sử văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc... Thăng Long không có những lâu đài, cung điện, tráng lệ, đồ sộ, không có những ṭa nhà to lớn hùng vĩ, không có những cố cung hoành tráng rực rỡ. Nó cũng thiếu những cảnh u-nhă độc đáo...
Khác với văn hóa Trung Hoa, văn minh Đại Việt không có truyền thống xây dựng cung điện lộng lẫy đồ sộ, và lăng mộ vĩ đại như Trung Hoa. Không phải là v́ người Việt Nam không có tài năng. Nên biết rằng các kiến trúc tổng thể của cố cung rất hùng vĩ, hào hoa tráng lệ, là tinh hoa của nghệ thuật kiến trúc cổ đại Trung Hoa. Trong thành tựu độc đáo tuyệt vời xuất sắc của công tŕnh này, lại do một kiến trúc sư người Việt Nam. Đó là Nguyễn An, một nhân vật sống vào thế kỷ thứ XV mà sách sử Việt Nam rất ít nhắc đến. Nhưng trong các sách Trung Hoa ngay vào đời nhà Minh và đời nhà Thanh sau này đă hết lời ca ngợi Nguyễn An là một Tổng Công Tŕnh Sự tài ba. Đă góp phần quan trọng trong việc xây dựng thành Bắc Kinh.
|