Xem bài viết riêng lẻ
  #8  
Cũ 09-12-10, 01:38 PM
phale phale đang ẩn
CM Nhị Thập Nhị Nguyên
 
Tham gia ngày: Apr 2010
Bài gửi: 24.804
Thanks: 45.829
Thanked 83.832 Times in 21.719 Posts
Mặc định

Những bài thơ tuyệt mệnh

Thi pháp Đường thi truyền thống đưa tới một hiệu quả nghệ thuật - nhân sinh rất đặc biệt. Đ̣i hỏi một sự nhất hóa cao độ giữa ngoại giới với nội tâm, nó khiến người làm thơ bộc lộ không những kiến thức, nhân phẩm, tâm tính, phong cách mà nhiều khi cả tiềm thức, dự cảm của ḿnh nữa. Cho nên trong giai thoại thơ Đường có không ít các truyện kể về việc xem tác phẩm mà biết được tài năng, chí khí, sự nghiệp, cuộc đời của tác giả. Có thể xếp những bài thơ tuyệt mệnh của Trịnh Thục Tân, Nguyên Chẩn, Thôi Nguyên Phạm, Lă Quần dưới đây vào loại “thơ khẩu khí” đó.

Trịnh Thục Tân người Vinh Dương, giỏi làm thơ ngũ ngôn, tuổi đă già mới được cử làm một chức Huyện úy ở vùng Giang Tải. Ngày lên đường thân thích bạn bè bày tiệc tiễn ở cửa Thượng Đông, Thục Tân làm thơ rằng:

Úy đồ phương vạn lư,
Sinh nhai cận bách niên.
Bất tri tương bạch thủ,
Hà xứ nhập hoàng tuyền.

(Đường hoạn muôn trùng nhiều hiểm trở,
Đời người trăm tuổi khổ sinh nhai.
Đành đem tóc trắng liều thân thế,
Gởi xác nơi nào thật chẳng hay).


Uống say rồi ngâm, thanh điệu bi thiết. Kế quả chết tại nơi làm quan, trong niên hiệu Trường Thọ (693 - 694).

Trong niên hiệu Thái Ḥa (827 - 836) Bạch Cư Dị làm Lệnh doăn Hà Nam. Nguyên Chẩn được phong làm Tả Thừa tướng, từ Việt Châu qua đất Lạc thăm Cư Dị, có làm hai bài thơ từ biệt như sau:

I.
Quân ưng quái ngă lưu liên cửu,
Ngă dục dữ quân từ biệt nan.
Bạch đầu đồ lữ tạm hy thiểu,
Minh nhật khủng quân vô thử hoan.
II.
Tự thức quân lai tam độ biệt,
Giá hồi bạch tận lăo tỳ tu.
Luyến quân bất khứ quân tu hội,
Tri đắc hậu thời tương kiến vô?

(I.
Bạn cứ lạ ta lưu lạc măi,
Ta toan chào bạn ngại ngùng hoài.
Bạn bè tóc bạc dần thưa vắng,
E bạn mai ngày ít dịp vui.
II.
Tính lại ba phen ḿnh cách mặt,
Lần này râu tóc thảy như bông.
Thương nhau nấn ná giờ ly biệt,
Biết có ngày sau gặp lại không?).


Chẳng bao lâu quả nhiên Chẩn chết ở Ngạc Châu. Cư Dị khóc nói “Trước lấy thơ kết giao, sau lấy thơ vĩnh quyết, đàn bút ta thôi hết, chắc là ngày nay chăng!”.

Thôi Nguyên Phạm làm Giám sát Ngự sử ra thanh tra Chiết Đông. Trước đó Quan sát sứ Chiết Đông Lư Nạp có một đêm lên vọng lâu trong thành nghe lời hát rằng “Nhạn Môn sơn thượng nhạn sơ phi” (Chim nhạn vừa bay núi Nhạn Môn), âm điệu gấp gáp thê thiết. Nạp gọi tới hỏi, người hát thưa rằng “Thiếp là con hát ra khỏi sổ tên Thịnh Tiểu Tùng”. Đến hôm Nguyên Phạm thanh tra xong trở về kinh, Nạp hội quan viên ở mạc phủ bày tiệc đưa chân, sai Tiểu Tùng hát, mỗi khách trên tiệc đều làm một bài thơ tứ tuyệt để tiễn. Thơ của Nạp như sau:

Tú y bôn mệnh khứ t́nh đa,
Nam quốc giai nhân liễm thúy nga.
Tằng hướng giáo phường thinh (thính) quốc nhạc,
Vị quân trùng xướng Thịnh Tùng ca.

(Áo thêu chăm chắm lại kinh hoa,
Người đẹp phương Nam dạ xót xa.
Từng hướng ca phường nghe tiếng nhạc,
V́ ông lại bảo Thịnh Tùng ca).


Nguyên Phạm hiểu ư chúc tụng của Nạp, bèn làm một bài thơ từ tạ rằng:

Dương công lưu yến Nghiễn Sơn đ́nh,
Lạc Phố cao ca ngũ dạ t́nh.
Độc hướng Bách đài vi lăo lại,
Khả lân lâm mộc hưởng dư thanh.

(Quan hiền ư tiễn xiết chân thành,
Người đẹp lời ca nặng nghĩa t́nh.
Chức lại riêng già nơi phủ quạ,
Nghĩ thương cây lá vọng âm thanh).


Khách trên tiệc có người nói “Quan Thị ngự là Trung thư nơi gác Phượng, tiền tŕnh như chim phượng, làm sao mà già nơi phủ quạ (thời Hán trong phủ Ngự sử trồng nhiều cây bách, có đàn quạ hoang vài ngàn con tụ tập, sáng bay đi tối bay về, người ta v́ thế gọi phủ Ngự sử là Bách đài hay Ô đài) được, xin ngài sửa câu ấy”. Nguyên Phạm không chịu, đến mùa thu đi xét án ngục tại Tiêu Trung, chết ở chức Ngự sử.

Lă Quần, vào năm Nguyên Ḥa thứ 11 (816) thi rớt, đi chơi tới đất Thục. Tính khắt khe với kẻ dưới, đám đầy tớ đánh xe đều oán hận. Tới My Châu ngụ lại ở một ngôi chùa, Quần đề hai bài thơ trên vách phía đông rằng:

I.
Lộ hành tam Thục tận,
Thân cập nhất dương sinh.
Lại hữu tàn đăng hỏa,
Tương y tọa đáo minh.
II.
Xă hậu từ sào yến,
Sương tiền biệt đới bồng.
Nguyện vi hồ điệp mộng,
Phi khứ mịch Quan Trung.

(I.
Lối trước hỏi đường ba Thục hết,
Đông về gặp khí nhất dương sinh.
Đèn tàn ngọn lửa c̣n leo lét,
Đến sáng nương nhau tỏ bóng h́nh.
II.
Bỏ rường, trên tổ không chim én,
Đứt rễ, trong sương sót cánh bồng.
Mong được mơ màng trong giấc bướm,
Bay về chấp chới kiếm Quan Trung).


Ngâm xong rơi lệ, ngậm ngùi không thôi. Chẳng bao lâu th́ bị đầy tớ giết chết.

Thơ của Trịnh Thục Tân là lời tuyệt vọng, của Nguyên Chẩn là lời tuyệt giao, của Thôi Nguyên Phạm là lời tuyệt danh, của Lă Quần là lời tuyệt tâm. Bốn người đều có chỗ đoạn tuyệt với đời, có lẽ cũng là điềm tuyệt mệnh. Song Thục Tân tuy tuyệt vọng mà không tuyệt chí, Nguyên Chẩn tựa tuyệt giao mà không tuyệt t́nh, Nguyên Phạm giống tuyệt danh mà không tuyệt ư, nên kết cục c̣n được trọn vẹn. Riêng Quần th́ khí cục nhỏ nhen, không dung ngoại vật, đi chơi dừng lại mà than là hết đường, chim én lánh đông mà tả là bỏ rường, quả là con người khắc bạc. Đến như biết đèn sắp tắt mà vẫn gượng soi đến sáng, có ư khinh đời song lại đợi chờ giấc bướm, th́ việc làm nông nổi, lời nói bừa băi đă cho thấy là kẻ cư xử bất cẩn vậy. Lời thơ Chim én bỏ rường, Cánh bồng đứt rễ quả là cái triệu tuyệt tâm, song kẻ nào nhất thời chán đời cũng có thể viết ra được, chưa phải đă thực sự là điều hệ trọng. Đáng nói là t́nh tuyệt chỗ hết đường, ư tuyệt chỗ nương đèn, chí tuyệt chỗ giấc bướm, tâm t́nh cùng ư chí đều tuyệt, thật đă đáng ngại lắm. Huống chi tâm sự đă phiền năo, tâm tính vốn khắc bạc mà tâm tư lại bất cẩn, th́ chết phi mệnh dưới tay kẻ hầu hạ thất học nghĩ cũng đúng thôi.
Trả lời với trích dẫn