NguyetVien


Trở lại   Nguyệt Viên > Vườn Thơ > Thơ Quán
Nạp lại trang này Các bài Phú hay

Thông Báo
Hướng dẫn cách đăng kư nick tham gia Nguyệt Viên
Cuộc thi thơ Đường Luật "T́nh yêu 2020""
Lời cảm ơn và h́nh ảnh của chuyến đi "Thương về Miền Trung 2010"

Trả lời
  #1  
Cũ 05-06-21, 11:31 AM
phale phale đang ẩn
CM Nhị Thập Nhị Nguyên
 
Tham gia ngày: Apr 2010
Bài gửi: 24.698
Thanks: 45.519
Thanked 83.356 Times in 21.613 Posts
Mặc định Các bài Phú hay

Phú (chữ Nho:賦) là một thể văn chương cổ của Việt Nam, xuất phát từ Trung Hoa. Đây là một thể văn vần có từ thời nhà Hán nhưng thể phú thông dụng nhất tại Việt Nam là loại đặt ra từ đời nhà Đường, nên c̣n gọi là Đường phú. Những thể khác ít dùng là:

phú tứ tự: phú bốn chữ, dùng câu chỉ có bốn chữ
phú thất tự: phú bảy chữ, dùng câu chỉ có bảy chữ
phú Sở từ: câu phú có năm, sáu chữ; cuối câu th́ đệm chữ "hề"
phú lưu thủy: phú không hạn chế số chữ, gần như văn xuôi.

Phú theo nghĩa đen chủ yếu là thể văn tả cảnh. Nhưng từ cái ư chính tả ngoại cảnh, một bài phú thường liên kết với nội tâm để tả t́nh.

Thể thức

Bài phú có hai yếu tố chính là có vần và có đối. Một câu chia làm hai vế phải đối nhau. Chữ cuối câu, tức cuối vế thứ nh́ th́ gieo vần. Ví dụ như trong bài "Phú hỏng thi" của Trần Kế Xương:

Quyển đệ tam viết đă xong rồi
bảng đệ tứ chưa ra c̣n ngóng
Thầy chắc hẳn văn chương có mực, lễ thánh xem gị
cô mừng thầm mũ áo đến tay, gặp người nói mộng

Cách sắp xếp bài phú có năm đoạn, có tên là:

lung: mở đầu bài
biện nguyên: t́m lại cái gốc của đề tài
thích thực: tả ư nghĩa
phu diễn: tán rộng ư
nghị luận: tổng kết.

Luật vần

Đường phú có thể áp dụng một trong ba luật vần:

độc vận: dùng chỉ một vần, gieo từ đầu đến cuối bài cho mọi câu của cả năm đoạn: lung, biện nguyên, thích thực, phu diễn và nghị luận.
hạn vận: mỗi đoạn của bài phú dùng một vần riêng. Như đoạn lung th́ mọi câu gieo cùng vần, sang đoạn biện nguyên th́ mọi câu lại gieo vần khác...
phóng vận: vần có thể thay đổi, không cần ăn khớp với mỗi đoạn của bài phú.

Phép đặt câu


Số câu trong bài phú không nhất định, muốn đặt bao nhiêu cũng được. Câu đầu mỗi đoạn thường dùng câu bốn chữ, gọi là tứ tự. Nếu xếp mấy câu bốn chữ liền nhau th́ có thể gieo cùng một vần, gọi là vần liên châu.

Sau câu tứ tự th́ đến thân đoạn. Số chữ mỗi câu có mấy loại, căn cứ trên cách ngắt câu.

song quan: mỗi vế dưới 10 chữ, không ngắt
cách cú: mỗi vế ngắt làm hai đoạn, một ngắn, một dài
gối hạc hay hạc tất: mỗi vế ngắt làm ba đoạn.

(Theo Wikipedia)
Trả lời với trích dẫn
The Following 2 Users Say Thank You to phale For This Useful Post:
CM4Q (06-06-21), Nhím con (07-06-21)
  #2  
Cũ 05-06-21, 11:32 AM
phale phale đang ẩn
CM Nhị Thập Nhị Nguyên
 
Tham gia ngày: Apr 2010
Bài gửi: 24.698
Thanks: 45.519
Thanked 83.356 Times in 21.613 Posts
Mặc định

“Phá diêu phú” của Lă Mông Chính

Trời có lúc thịnh lúc suy khó lường, người ta có những chuyện họa phúc bất ngờ.
Con rết có trăm chân, chạy không kịp con rắn.
Gà trống có đôi cánh, nhưng bay không hơn ǵ con vịt.
Con ngựa đi ngàn dặm đường, nhưng không có người cưỡi th́ chẳng thể tự đi được.
Người ta dù có chí khí ngút trời, nhưng vận số chưa đến th́ cũng không làm nổi việc ǵ.
Có câu:
Con người sống ở thế gian, nếu được giàu sang phú quư cũng không thể phóng túng dâm đăng, dù nghèo khổ cũng không thể thay đổi chí hướng.
Văn chương nổi tiếng trên đời, Khổng Tử cũng có lần bần cùng khốn khổ ở nước Trần.
Vơ lược siêu quần, Thái Công cũng có lúc câu cá chờ thời ở sông Vị.
Nhan Uyên nào phải là người hung ác, nhưng chết sớm.
Đạo Chích đâu phải là người lương thiện, mà lại sống lâu.
Vua Nghiêu là một vị Thánh vương sáng suốt, lại sinh ra đứa con hư hỏng.
Cổ Tẩu là kẻ ngu muội và ngoan cố nhưng lại sinh ra người con rất hiếu thảo.
Trương Lương vốn là thường dân áo vải, nhưng gặp được Tiêu Hà th́ trở thành quan huyện.
Yến Tử, thân h́nh cao chưa đầy 5 thước mà được phong làm Tể Tướng nước Tề;
Khổng Minh sống trong túp lều tranh, mà có thể làm Quân sư cho nhà Thục Hán.

Sở Vương tuy hùng mạnh, cuối cùng phải tự vẫn ở sông Ô giang;
Hán Vương tuy yếu thế, mà lại có được giang sơn vạn dặm. Lư Quảng có oai phong bắn được hổ dữ, nhưng đến già vẫn không được phong tước; Phùng Đường có tài cưỡi rồng, mà suốt đời không có cơ hội. Hàn Tín khi chưa gặp thời, nghèo đến độ thường ngày không có đủ ba bữa cơm ăn, nhưng khi vận may đến, th́ lưng đeo ngọc ấn dài 3 thước, một khi số mạng suy sụp th́ cũng phải chết vào tay một người phụ nữ.

Có người lúc đầu nghèo khổ rồi sau lại giàu có; có người lúc c̣n trẻ yếu đuối mà về già lại tráng kiện.
Có người bụng đầy văn chương, đến già cũng không thi đỗ; có người tài nghệ và học vấn nông cạn nhưng lại thi đỗ từ lúc c̣n thiếu niên. Cung nữ trong hoàng cung, gặp vận không may th́ cũng thành kỹ nữ và hầu thiếp; gái lầu xanh gặp thời thế lại trở thành phu nhân quư phái. Thanh xuân mỹ nữ, lại lấy người ngu xuẩn làm chồng; khôi ngô tuấn tú lại lấy người vợ thô xấu.
Rồng chưa gặp thời, cũng lặn cùng đám cá đám rùa; người quân tử khi thất thế cũng phải chắp tay dưới kẻ tiểu nhân.
Khi nghèo khó áo quần rách nát, vẫn phải bảo tồn tác phong nghi lễ; khi gặp phải chuyện buồn, vẫn phải giữ cho tâm b́nh tĩnh.
Thời thế chưa đến, chỉ nên an phận nghèo; nếu tâm chân thành không lừa dối, tất nhiên sẽ có ngày được mở mày mở mặt.
Người quân tử ban đầu nghèo khổ, nhưng vẫn có cốt cách phong thái trời cho; kẻ tiểu nhân bất chợt giàu sang, th́ vẫn cứ là người thấp kém.

Thiên Đường không gặp thời, th́ mặt trời mặt trăng không tỏa sáng;
Đất chưa gặp thời, th́ cây cỏ không sinh sôi;
Khi nước không gặp thời, th́ sóng gió sẽ nổi lên;
khi con người không gặp thời th́ vận may không đến.
Phúc và lộc của con người, trong số mạng đă được an bài định sẵn, giàu sang phú quư có ai mà chẳng muốn?
Người ta nếu không theo căn cơ Bát tự, có thể nào làm quan làm tướng được không?

Trước kia ta cư ngụ ở Lạc Dương, xin ăn của các nhà sư, tối ngủ trong một hốc đá đục bên sườn núi, quần áo không đủ che thân, thức ăn không đủ no ḷng, người trên th́ khinh ghét, kẻ dưới th́ chán ngán. Đời sống của ta bần tiện, chẳng phải v́ ta không tốt.
Bây giờ ta ở chốn triều đ́nh, làm quan đến cực phẩm, ở địa vị Tam Công, địa vị chỉ khom lưng dưới một người mà đứng trên cả ngàn vạn người, có quyền quất roi phạt trăm quan, có quyền chém kẻ nào không tốt.
Quần áo có gấm vóc ngàn rương, thức ăn hàng trăm món ngon vật lạ, hễ ra ngoài là có tráng sĩ cầm côn bảo vệ, khi về nhà là có giai nhân hầu rượu, người trên yêu mến ta, kẻ dưới ủng hộ ta.
Đời sống của ta phú quư, chẳng phải v́ tài năng của ta, mà đó là thời của ta! Cũng là vận của ta! Cũng là mệnh của ta!

Than ôi! Con người sống trên thế gian, phú quư không thể cố dùng đến tận cùng, bần tiện không thể tự lừa dối bản thân, bởi v́ Thiên Địa tuần hoàn, xoay vần măi măi.

Lần sửa cuối bởi phale; 05-06-21 lúc 11:40 AM
Trả lời với trích dẫn
The Following 2 Users Say Thank You to phale For This Useful Post:
CM4Q (06-06-21), Nhím con (07-06-21)
  #3  
Cũ 05-06-21, 11:47 AM
phale phale đang ẩn
CM Nhị Thập Nhị Nguyên
 
Tham gia ngày: Apr 2010
Bài gửi: 24.698
Thanks: 45.519
Thanked 83.356 Times in 21.613 Posts
Mặc định

Gia Định Phú

“Bài phú này không rơ tên tác giả, cũng không rơ làm thời nào, song độ chừng trăm năm nay th́ phải. Văn không phải thật là hay, nhưng tác giả có tài góp nhặt những cảnh tượng cùng nhân vật đất Sài G̣n và Chợ Lớn sắp đặt ra đối chọi với nhau đủ cách thể, như là song quan, cách cú, hạc tất, vân vân… Nay muốn xét xem cho rơ biết từng chỗ từng nơi, tưởng không thể biết hết được. Mà có rơ được đi nữa, trông thấy cũng thương tâm, v́ các nơi cổ tích nay đă di dịch biến thiên đi rồi. Vậy lục giả lục ra đây là có ư để ghi lấy quốc âm cổ thời ở trong Nam đó thôi. – NG.A.T.”
“Phủ Gia Định, phủ Gia Định, nhà đủ người no chốn chốn,

Toàn văn

Xứ Sài G̣n, xứ Sài G̣n, ở ăn vui thú nơi nơi.

Lạc thổ nhóm bốn dân: sĩ nông công thương ngư tiều canh mục,

Qui thành xây tám cửa: càn khảm cấn chấn tốn ly khôn đoài.

Lợi đất th́n th́n xóm Vườn Mít,

B́nh trời ṿi vọi núi Mô Xoài.

Đông đảo thay! Phường Mỹ Hội,

Xum nghiêm bấy! Làng Tân Khai.

Ngói liệng đuôi lân, phố thương khách ṭa ngang ṭa dọc,

Hiên xè cánh én, nhà quan dân làng vắn làng dài.

Gái nha nhuốc tay ṿng tay niểng,

Trai xênh xoang chơn hán chơn hài.

Dù vơng nghênh ngang chợ Điều Khiển,

Quan quân rậm rật cầu Khâm Sai.

Vào Chợ Quán, ra Bến Nghé,

Xuống Nhà Bè, lên Đồng Nai.

Coi ngoài rạch Bà Nghè, ḍng trắng hây hây tờ quyến trải,

Ngó lên đồng Ông Tố, cây xanh mịch mịch lá chàm rai.

Dưới Bến Nghé hát lẳng lơ giọng con đ̣, giọng con rổi, (1)

Trên tàu voi ca khổn khểnh, tiếng thằng mục, tiếng thằng nài. (2)

Cây da Thằng Mọi coi bán đủ thuốc xiêm cau mức,

Cái cầu Cao Miên thấy làm nguyên cột vắp ván trai.

Trên cây Da C̣m nỡ để ông già gùi đội,

Dưới dàng Cầu Khắc chi cho con trẻ lạc loài.

Đàng Nước Nhỉ chảy tiêu tiêu người thương khách lại qua hóng mát,

Quán Nước Trên ḍng dợn dợn, khách bộ hành tắm mát nghỉ ngơi.

Kho Cẩm Thảo chứa thuế vua, mạch nước sữa dân ai dám đoái,

Chùa Kim Chương làm tôi Phật, tương chua muối mặn săi trường trai.

Trong làng Cây Gơ nhà bền rường cột,

Ngoài chợ Cây Vông giậu cắm gốc gai.

Nhắm kinh mới như chỉ giăng đàng đất,

Đi chợ hôm vừa tối sập mặt trời.

Chùa Cẩm Đệm nên nghiêm, rựt rựt thấy săi nằm nệm gấm,

Xóm Hoa Nương đua nở, dầy dầy coi khách bẻ nhụy người.

Trong Chợ Lớn thinh thinh góp nhóp đủ loài rừng vật biển,

Trên Cầu Quan lộ lộ lại qua nhiều chú đội cậu cai.

Giếng Chùa Bà nhiễm mạch cam tuyền, trai gái thảy thỏa t́nh khát vọng,

Cầu Bà Thuông trên đường quan lộ, lớn bé đều phỉ chí quy lai.

Choi chói bấy! Chùa Ông Quan Đế, nền trung nghĩa cao danh ngàn thuở,

Thăm thẳm thay! Miếu Đức Thánh Nhơn, mối tư văn dựng để muôn đời.

Coi chùa Ông Bổn đầu cân, dám quên chữ ngọn rau tấc đất,

Thấy miếu Công Thần chư vị, chạnh nhớ câu niềm chúa nghĩa tôi.

Kẻ lâm dân vái Bà Chúa thai sanh, xin mẹ tṛn con vuông, chẳng đặng trai th́ đặng gái,

Người kư chúc lạy Chùa Bà Mẫu Hậu, xin thuận buồm xuôi gió, đi đến chốn về đến nơi.

Cắc cớ thợ ḷ rèn, nghe chạc chạc nhà bang đánh búa,

Lạ lùng xóm ḷ gốm, chơn ṿ ṿ bàng cổ xây trời.

Khỏi lo bề lắm nhắm dầm sương, rong vác người đi chợ sỏi,

Hằng thấy kẻ hùng hào xúc ốc, nồng nàn kẻ ở ḷ vôi.

Cứng cỏi bấy, thứ đờn bà xứ G̣ Vấp,

Thanh tao thay, ông Ḥa thượng chùa Cây Mai.

Giếng Hàng Xáo múc lao xao kẻ chở thuyền người chuyên bộ,

Xóm Cối Xay làm lạc chạc chồng đục họng vợ trổ tai.

Trong Cầu Đường chuốt ngót ngọt ngon, đủ đường cát, đường hạ, đường phèn, đường phổi,

Ngoài Xóm Bột phơi phong trắng ră, những bột ḿ, bột lọc, bột đậu, bột khoai.

Đồn tập trận rộng thênh thênh, coi xấp xỉ ḥng bằng Thái Nguyên dă,

G̣ nổ súng cao trập trập, nhằm sâm si nửa tợ Vọng Tân đài.

Chốn Thi trường lẩy lẩy nho phong, đền phỉ chí hộc hồng, một thuở bảng vàng lăm chiếm,

Nhà Quốc học dày dày sĩ tử, gắng gia công đăng hỏa, mười năm đèn sách dùi mài.

Cầu Cây Gơ trây trây, ốc gẩm hổ ngươi cầu ông Bỉnh,

Quán cao lâu vọi vọi, đành thay mắc cỡ quán bà Mai.

Trước phường phố bày hàng bày hóa,

Sau nhà quê trồng bắp trồng khoai.

Đồn tiếng Nam châu thời đă phải, ghe đen mũi ghe vàng mũi, vào ra coi ḷa nước,

Người phương Đông qua lại bán buôn, tàu xanh mang tàu đỏ mang hàng hóa ngất trời.

Trọ trẹ ở dưới sông bọn Huế kéo neo hồ hố hụi,

Xi xô ngang đường cái khách già rao kẹo ối châu ôi.

Dăy thầy bói chiếm bên đường, thấy gieo tiền hào sách hào đơn, lời kỳ cục quẻ rằng linh quẻ,

Bọn quân phường ngồi dưới cội, nghe đổ sứa hồi khoan hồi nhặt, giọng hoan ương hơi thiệt tốt hơi.

Lính nghèo ngoài cửa kéo chổng khu, tội báo ham vui chơi con thỏa,

Trùm ruộng trong ghe xui mất của, cũng v́ vác mặt ngó cái đoi.

Nhiều nhà giàu một lạ một lùng, giàu có kẻ đến vàng đến vẹo,

Mấy ai khó cho bần cho tiện, khó sạch trơn và đất và dùi.

Chốn chốn phong quang ca xướng,

Nhà nhà lịch lịch an nơi.

Lũ bảy đoàn ba, rựt rựt thấy bạn mai khách trúc,

Kẻ qua người lại, rần rần nghe nhạc ngựa chuông voi.

Muốn nói không hay vừa hết,

Muốn nghe không hay vừa thôi.

Và tôi nay:

Học c̣n vắn học, tài vốn thua tài.

Mắt nh́n thấy dân phong vật phụ,

Tính thừa ưa xúc cảnh hứng hoài.

Góp nhóp những lời quê tiếng kịch,

Nối nắn nên giọng vắn câu dài.

Một thủa vui th́ ghi để,

Khi buồn lại giở ra coi…”



Nguyễn Anh Tuấn sao lục (Vĩnh Long)



Chú thich trên tạp chí Nam Phong:



(1) Con rổi là phường đánh cá.

(2) Thằng nài là người quản tượng, người đánh ngựa.



CHÚ THÍCH



Những chú thích dưới đây, chúng tôi tham khảo từ: Đại Nam quấc âm tự vị (Hùinh Tịnh Paulus Của -HTC), Văn học Việt Nam (Dương Quảng Hàm -DQH), Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh - ĐDA, Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trụ - LVĐ), Tự vị tiếng nói Miền Nam, Sài G̣n năm xưa (Vương Hồng Sển - VHS), Bến Ngé xưa (Sơn Nam – SN), Thành cổ Sài G̣n (Lê Nguyên –LN), T́m hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ (Nguyễn Hữu Hiếu –NHH).



* Tác giả bài phú: Theo người sưu tầm đăng trên Nam Phong th́ “không rơ tên tác giả cũng không rơ làm thời nào, song độ chừng trăm năm nay th́ phải”. Tạp chí Nam Phong số này xuất bản năm 1923.

Trong Sài G̣n năm xưa Vương Hồng Sển dẫn Trương Vĩnh Kư: “Cổ Gia Định vịnh, tương truyền do ông Ngô Nhơn Tịnh soạn, bản in Trương Vĩnh Kư, 1882, trương 5” - Ngô Nhơn Tịnh (1761-1813), gốc người Minh hương, cùng Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Tùng Châu học với thầy Vơ Trường Toản, pḥ nhà Nguyễn từ lúc ban đầu dựng nghiệp, trải các chức vụ: Thị độc Viên Hàn lâm, Hữu Tham tri bộ Binh, Hiệp Trấn tỉnh Nghệ An, Thượng thư bộ Công kiêm Hiệp Hành Tổng trấn Gia Định, tước Tinh Viễn hầu. Từng lănh nhiệm vụ Giáp Phó sứ sang nhà Thanh (Chánh sứ là Trịnh Hoài Đức), Chánh sứ sang Chân Lạp (Cao Miên). Ngô Nhơn Tịnh, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định lập “B́nh Dương thi xă”, đương thời gọi là “Gia Định tam gia”. Tác phẩm của Ngô Nhơn Tịnh có thơ, văn, biên khảo về phong thổ địa phương.

Theo Sơn Nam trong Bến Nghé xưa: “Gia Định hoài cổ vịnh tương truyền của Ngô Nhơn Tịnh, nhưng tác giả này mất từ năm 1813. Kinh mới đề cập trong bài th́ đào trễ hơn, năm 1819 ... Bài này khuyết danh, soạn ra trước khi Lê Văn Khôi khởi binh, Quy thành c̣n nguyên vẹn” (Lê Văn Khôi khởi binh năm 1833, mất năm 1834, năm 1835 triều đ́nh thu phục Quy thành và phá hủy)

* Về thể phú: Nguyễn Anh Tuấn có nói đến các cách đặt câu: song quan, cách cú, hạc tất… Trong Văn học Việt Nam, Dương Quảng Hàm giải thích: Câu tứ tự: mỗi vế bốn chữ. Câu bát tự: mỗi vế tám chữ. Câu song quan (hai cái cửa): mỗi vế có 5, 6 chữ trở lên đến 8, 9 chữ, đặt thành một đoạn liền. Câu cách cú (cách: ngăn ra, cú: câu): mỗi vế có 2 đoạn, một đoạn ngắn một đoạn dài, có một câu khác xen vào giữa. Câu hạc tất (gối hạc): mỗi vế có 3 đoạn, đoạn giữa ngắn, hai đoạn trước và sau dài.

* Từ ngữ:

-Lạc thổ: Chỗ an vui.

-Th́n th́n: Th́n: Thuần, hiền từ, đằm thắm.

-Niểng: Đồ bắt chỉ, chạy chỉ, làm khéo như đồ chạm trổ. (HTC) Vật trang sức.

-Chơn hán chơn hài: Chơn giày chơn dép, sự thể sang giàu, làm mặt sang giàu. Hài hán: giày dép.

-Tờ quyến: Giấy quyến, giấy mỏng, trắng, mịn, thường dùng vấn thuốc hút.

-Con rổi: Tác giả chú là “phường đánh cá”. Ở Miền Trung dùng để chỉ những người bán hải sản, thường “chạy” từ bến biển đến các chợ cho kịp bán cá tôm c̣n tươi ngon.

-Thằng nài: Ở Miền Trung chỉ gọi người điều khiển voi là thằng nài, không có ngựa đua nên không có nài ngựa, chỉ có ngựa cỡi, chủ nhân cỡi chứ không phải người nài, ngựa chở hàng hóa th́ chủ nhân đi bên cạnh điều khiển.

-Tàu voi: Chỗ nhốt voi.

-Cau mức: VHS viết cau mứt. Là trái cau để già, nấu kẹo như mứt, người Thổ rất thích ăn. Hai món [thuốc xiêm cau mứt] là gia vị đặc biệt trong miếng trầu thời xưa, nay đă ít được thấy. (VHS)

-Cột vắp: Cột làm bằng gỗ vắp. Vắp: Gỗ nhứt hạng, khó làm, cứng, giỏi chịu đựng dưới nước ngọt, không sợ mối nhưng sợ hà. Dùng làm cột cầu tàu, đà xe hỏa, sườn nhà, tiện các món gỗ dùng theo máy v.v... (VHS) – Loại danh mộc, lá như lá khế, muốn cưa hoặc đục đẽo th́ làm ngay lúc cây c̣n tươi, khô rồi dao búa đẽo không vô, chịu đựng nước mưa, đốt làm than để nấu đồng nấu sắt đúc súng rất tốt (SN dẫn theo Gia Định thành thông chí) – Cũng gọi lim, cây to, lá đơn mọc đối, hoa trắng, 4 lá đài, 4 cánh, nhiều tiểu nhị, noăn sào không lông, có 2 buồng, nag có đài và một phần cánh c̣n lại, nở làm 2 mảnh, có từ 1 tới 4 hột to, hột có dầu, dầu có chất tùng chỉ cá tác động vào tim, vỏ cây đắng, bổ (LVĐ). Vắp cũng đọc là vấp: G̣ Vấp.

-Ván trai: Ván bằng gỗ trai. Trai: Thứ cây gỗ lớn, xằng thịt, nhỏ sớ, rất bền chắc, người ta thường dùng mà đóng ḥm (HTC) – Cũng gọi cây tách, cây to, gỗ rắn chắc, lá láng gịn, hoa trắng có nhiều tiểu nhị, trái có cánh thuộc loại dực quả (LVĐ).

-Thương khách: Khách đi buôn.

-Khách bộ hành: Người đi chân.

-Trường trai: Suốt năm ăn chay.

-Cam tuyền: Suối nước ngọt.

-Khát vọng: Ước ao, trông mong.

-Quan lộ: Đường cái quan, đường do nhà nước đắp.

-Phỉ chí: Thỏa chí, toại chí, đúng với ḷng mong mỏi, với ư định.

-Qui lai: Về lại. Đi lại.

-Nhà bang: Hùinh Tịnh Của viết “nhà Ban”: Nhà ông Lỗ Ban là tổ các thầy thợ. Nhà bày đủ các nghề nghiệp. Câu “Búa bày nhà Ban” là “nhằm tổ mà khoe tài”, cũng như “Múa ŕu qua cửa Lỗ Ban”.

-Bàng cổ xây trời: Hùinh Tịnh Của viết “Bàn Cổ”: Sách ngoại kỉ nói Bàn Cổ là ông tổ thiên hạ. Ông Bàn Cổ sinh ra đầu hết, mới phân ra trời đất. (Thợ làm gốm chân đạp bàn xoay, tay nương theo khối đất tạo h́nh vật dụng, ví như Bàn Cổ xoay ṿng trời đất).

-Hồng hộc: Hồng: Con ngỗng trời. Hộc: Thứ chim giống như chim nhạn. cũng gọi là thiên nga. Chim hồng và chim hộc, tức con ngỗng trời và con ngan trời, là thứ chim bay cao lắm (ĐDA) – Bay cao, bay xa như chim hồng chim hộc, là biểu tượng ước vọng thành đạt của những sĩ tử Nho học ngày xưa.

-Ghe đen mũi, ghe vàng mũi, tàu xanh mang, tàu đỏ mang: Thời nhà Nguyễn triều đ́nh có quy định màu sơn và màu cờ cho tàu thuyền từng tỉnh, khác nhau, để phân biệt.

-Khách già: Khách: Người Hoa kiều. Ở đây nói đến những ông Khách già đi bán dạo.

-Hào sách hào đơn: Hào: Dấu gạch theo bát quái. Hào trùng: hào gạch đôi. Hào sách, hào đơn: hào gạch chiếc (HTC)

-Kỳ cục: Lạ đời, ngộ nghĩnh.

-Hoan ương: Đào Duy Anh viết “Oan ương”: Một thứ chim, con đực là oan, con cái là ương, ở từng cặp, không khi nào rời nhau. Ngb: Vợ chồng thương nhau. - Tục truyền rằng oan ương là một thứ ốc nhỏ, một con là oan, một con là ương, bỏ hai con vào một cái dĩa có nước chanh chua, th́ nó t́m nhau mà đi lại với nhau. (Ở đây, giọng hoan ương (oan ương) là những bài hát diễm t́nh).

-Đoi: Âm hộ, cửa ḿnh (tiếng nói cho loài thú cái) (HTC).

-Khó sạch trơn và đất và dùi: Không có chút đất cắm dùi, cũng không có cái dùi để cắm.

-Phong quang: Cảnh tượng, phong cảnh – Vinh diệu – Phẩm cách (ĐDA)

-Lịch lịch: Lịch: Trải qua, từng trải, trải việc, xinh đẹp. Lịch lịch: Xinh tốt, đẹp đẽ.

-Bạn mai khách trúc: Cây mai và cây trúc. Hai loại cây giỏi chịu đựng với thời tiết, mùa nào cũng xanh tươi, thường được vẽ trong tranh trang trí. Tượng trưng cho t́nh bằng hữu gắn bó, cả t́nh vợ chồng chung thủy.

-Dân phong vật phụ: Dân chúng giàu có, no ấm, đời sống tốt đẹp, sản vật nhiều, dồi dào.

-Xúc cảnh hứng hoài: Cảm động trước cảnh vật khiến ta có những ư tưởng nhớ thương, cảm khái.

* Một số địa danh:

-Quy Thành: Thành Gia Định xưa. Năm 1789 Nguyễn Ánh cả thắng Tây Sơn, thâu được Sài G̣n và ra lịnh xây đắp thành tŕ thêm kiên cố. Tính ra thành nầy xây năm 1790, lúc Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn nối vách thành lên cao hơn, dùng toàn đá ong kiên cố, năm 1832 vua Minh Mạng đổi tên là Phiên An Thành (Phan Yên), năm 1833 Lê Văn Khôi làm phản, chiếm thành 3 năm, đến năm Minh Mạng thứ 16 (1835) quân triều đ́nh hạ thành, vua ra lệnh san phẳng toàn bộ, xây một thành mới nhỏ hơn ở phía bắc thành cũ. Thành chỉ tồn tại 45 năm. Về sau, sử sách gọi là “Gia Định phế thành”... Cứ theo tài liệu Trương Vĩnh Kư th́ bốn vách Quy Thành ám theo bốn hướng, có thể nói ở lọt vào: 1. Đông: đường Lê Thánh Tôn. 2. Tây: đường Phan Đ́nh Phùng. 3. Bắc: đường Đinh Tiên Hoàng (nối dài qua Cường Để). 4. Nam: đường Công Lư (tên đường trước 4/1975 –THÂ). Mỗi mặt có 2 cửa Đông môn (cửa Cấn, cửa Chấn), Tây môn (cửa Tốn, cửa Đoài), Bắc môn (cửa Khôn, cửa Khảm), Nam môn (cửa Càn, cửa Ly) cộng là 8 cửa. Theo Đại Nam nhất thống chí Quy Thành c̣n có tên Gia Định kinh, ở về địa phận làng Tân Khai huyện B́nh Dương, vừa giống bát quái vừa giống h́nh hoa sen. (VHS) – Đường Phan Đ́nh Phùng nay là Nguyễn Đ́nh Chiểu, đường Công Lư nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

-Xóm Vườn Mít: Ba bốn mươi năm về trước, hai bên đường xe lửa giữa có trồng xoài và mít chen lộn nha, đến nay không c̣n, có c̣n chăng là những danh từ: Xóm Vườn Xoài Bà Lớn... Xóm Vườn Mít (xưa dân nghrfo lấy hột mít xay ra bột bán, xóm này truy ra ở lối Taberd-Mac Mahon cũ, chỗ Bộ Tư Pháp hiện nay [trước 1975 – THÂ] và đừng lộn với một xóm mít ở trên Phú Nhuận, đường Vơ Di Nguy nối dài. (VHS) – Có tư liệu ghi Bộ Tư Pháp VNCH (năm 1959-1960)ở đường Thống Nhất, nay là Lê Duẩn. Đường Vĩ Di Nguy Phú Nhuận nay là Phan Đ́nh Phùng, Nguyễn Kiệm, Nguyễn Oanh.

-Núi Mô Xoài: C̣n có các tên Môi Xui, Mỗi Xuy, thuộc địa phận Biên Ḥa (LVĐ)

-Phường Mỹ Hội: Thành phố Sài G̣n thuộc vùng đất thôn Mỹ Hội, bắt từ mé kinh Cây Cám chạy đụng ranh làng Tân Khai ... Đời xưa, ông Xă trưởng làng Mỹ Hội, nhờ trong vùng đất có xây thành tŕ, cùng như ngày nay chức Đô trưởng (1960), nên oai vệ không Xă trưởng nào b́ kịp. Xă trưởng làng Mỹ Hội, chức tuy nhỏ, nhưng đặc cách ngang hàng Cai tổng đương thời ấy, và được đặc ân đội măo trái bí. Mỗi khi làng Mỹ Hội chạy sớ xin xây cất đền chùa hoặc làm lại hay tu bổ công sở, khi sớ tâu đến kinh, bận về vua phái một Khâm sai đại thần mang vào năm quan tiền kẽm và vài món tặng phẩm khác đựng trên một mâm sơn son thếp vàng “vật khinh h́nh trọng” “ơn vua lộc nước”, bấy nhiêu đó đủ phỉnh mũi dân đen. (VHS)

-Làng Tân Khai: Tân Khai, tục danh là Chợ Sỏi, hoặc Vàm Bến Nghéd, ranh đất ăn giáp đường Trường Tiền (đường mé sông lối Cầu Mống). Hồi đàng cựu, đường mé sông nhà cửa đông đúc, lớp trên bờ, lớp dưới mé nước, chạy dài chen chúc khít nhau ... Tân Khai có đ́nh thờ thần xưa của đất Sài G̣n ... (VHS) – G̣ Tân Khai, nơi xây thành Gia Định năm 1790. Thành khá to h́nh vuông, mỗi cạnh hai cửa, tất cả tám cửa, v́ vậy gọi là thành Bát Quái, c̣n có tên Quy Thành, chung quanh hào sâu, vách kiên cố. (SN)

-Chợ Điều Khiển: Chức quan vơ cao nhất tại Gia Định thời đó là chức Điều khiển, được thiết lập lần đầu tiên năm 1731, thời chúa Nguyễn Phúc Trú. Người giữ chức Điều khiển tại Sài G̣n khi ấy là Trương Phúc Vinh, có nha lỵ riêng ở phía nam Phiên Trấn dinh gọi là dinh Điều khiển và có trách nhiệm thống lĩnh quan binh tất cả các dinh trấn phía nam. Đến thế kỉ XIX trước dinh Điều khiển cũ có một cái chợ mọc lên nên chợ này mang tên là chợ Điều Khiển (LN) -Điều khiển là chức quan vơ thời chúa Nguyễn (điều khiển ba quân), một chức vơ nữa là Điều bát (điều bát nhung vụ) ... Trước năm 1790, khi trong Nam chưa có thành tŕ kiên cố th́ đại binh chúa Nguyễn “đồn” dinh trại nơi xóm Tân Mỹ, sau đi về chợ Điều Khiển ở xóm Tân Thuân. (VHS) – Đồn Dinh, sau gọi chợ Điều Khiển, phía nam trấn Phiên An hai dặm rưỡi. Một vùng nhà cửa đông đúc từ Ngă Sáu ăn theo đường Nguyễn Trăi, đóng khung trong đường Nguyễn Thị Nghĩa, Lê Lai, Bùi Chu, Bùi Thị Xuân. Theo Trương Vĩnh Kư, chợ Điều Khiển ở trên đường đi về chuồng nuôi ngựa giống (trại Ô-ma). (SN) –Nguyễn Cửu Đàm là con trai của Khâm sai Nguyễn Cửu Vân, pḥ chúa Nguyễn Phước Chu. Năm 1772 được phong làm quan Điều khiển nhờ có công đánh đuổi quân Xiêm xâm lược. Ông đă tham gia xây dựng một cái lũy gọi là Bán Bích cổ lũy ... Ngoài ra ông c̣n lập một cái chợ, được dân chúng gọi là chợ Điều Khiển, tức chợ Thái B́nh ngày nay (NHH).

-Cầu Khâm Sai: Từ Cầu Đường vô Cầu Khâm Sai, trên đường G̣ Công, cũng gọi Cầu Khâm Sai hay Cầu Ba Miệng, nhà cửa nối liền san sát xem rất ngoạn mục. (VHS)

-Chợ Quán: Tân Kiểng, Nhơn Giang (trước 1885 tên Nhơn Ngăi), B́nh Yên là tên ba làng xưa, sau sáp nhập làm một là vùng Chợ Quán. Trước kia, nơi đây có làng Thợ Đúc, dân trong làng chuyên nghề trau lư đồng có tiếng, nổi danh một thuở, không kém lư Chợ Gạo (Phú Lâm). Gọi là “Chợ Quán” v́ thuở trước chợ nhóm họp dưới gốc những cây me đại thọ lối nhà thương Chợ Quán hiện nay. Chung quanh chợ có nhiều quán xá lốc cốc tựu một chỗ, nên đặt tên làm vậy ... Từ đường nhà thương đi đến một cái ao lớn, chỗ này mới đúng là làng Thợ Đúc năm xưa. (VHS)

-Bến Nghé: Nơi tụ tập của người Việt từ năm 1790. Thuở “đàng cựu” vùng Sài G̣n chánh danh gọi “Bến Nghé”. Đó mới là xóm Việt Nam. Bến Nghé, tên gọi “Ngữu Chữ”, tên khác nữa là Tân B́nh Giang; xóm Bến Nghé chạy dài từ khu Chợ Quán tới Hiển Trung Tự và chạy đến Thủy xưởng ... Cả ba vùng: vùng Miên (Phú Lâm), vùng Tàu (Đề Ngạn) và vùng Việt (Bến Nghé) nối liền nhau nhờ rạch, kinh, sông ng̣i nhiều hơn bằng đường lộ đất. Nay các đường thủy đạo bị lấp lần hồi, không dễ ǵ truy tầm ta manh mối ... – Bến Nghé: Tên sông Sài G̣n tức con sông bắt nguồn từ B́nh Long theo chiều bắc nam chảy qua B́nh Dương, Gia Định, hợp lưu với sông Đồng Nai tại làng Thạnh Mỹ Lợi (Gia Định) chảy vô Sài G̣n trổ ra Soi Rạp. Tên của cửa sông là Vàm Bến Nghé ... - Vùng Bến Nghé: trọn vùng Sài G̣n Gia Định hoặc hiểu rộng hơn tức trọn Miền Nam Việt Nam đối với toàn quốc ... (VHS) – Bến Nghé ở vào vị trí độc đáo: -Sát bờ biển, bên Khánh Hội là ranh giới của Rừng Sác, chạy tới biển. -Ở lằn ranh đất cao từ Tây Nguyễn đổ xuống, có thể trồng cây cao su. -Ở ranh giới của đất thấp ăn đến Đồng Tháp Mười, đến đồng vằng sông Cửu Long. Như vậy Bến Nghé liên lạc dễ dàng ra Trung, Bắc Bộ, lên Cao Nguyên, có đường thủy bộ lên Campuchia. Muốn vào Cảng, tàu bè theo con sông Ḷng Tàu quanh co giữa Rừng Sác; lạch nước sâu và rộng, không phải nạo vét thường xuyên, quanh năm không có sương mù. (SN)

-Nhà Bè: Chữ Hán là Phù Gia tam giang khẩu, gồm 3 vàm sông., sông Phước Long, sông Tân B́nh, gặp sông Phước B́nh. Buổi xưa hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn vừa thành lập, đường bộ chơa mở, hành khách có việc qua hai dinh phải đáp đ̣ đường trường. Đầu bến đ̣ phía bắc th́ ở bến sông Cát dinh Trấn Biên, đầu bến đ̣ phía nam th́ ở tại cầu đ̣ thôn Tân Hương tổng Tân Long, hai đ̣ này đều phải đậu tại Tam Giang khẩu đêr chờ con nước thuận. Thuở ấy dân cư thưa thớt, hành khách trong đ̣ nấu nướng rất khổ, khiến nên có ông bá hộ thôn Tân Chánh tên Thủ Huồng (Vơ Thủ Hoằng) lấy tre kết làm bè có mui che rồi bày nồi bếp, củi gạo cùng các vật để nấu ăn cho hành khách tự ư dùng mà khỏi trả tiền. Khi hết ông lại tiếp tế, suốt nhiều năm, đến khi tài lức khánh kiệt. Sau có nhiều người bắt chước, tự nhiên nổi lên một nhóm chợ nổi trên sông tấp nập và v́ vậy thành danh Nhà Bè. Nhưng từ ngày thủy lục lưu thông thuận tiện, nhứtb là từ có binh Tây Sơn vào đóng, đ̣ đường trường ít ai dùng, cảnhg Nhà Bè trở nên vắng lạnh, chỉ c̣n danh trơ. (VHS)

-Đồng Nai: Vùng tỉnh Biên Ḥa. Nay là tỉnh Đồng Nai. Cũng dùng để nói chung cả Miền Đông Nam Bộ.

-Bà Nghè: Rạch Bà Nghè, cũng gọi sông Thị Nghè, chảy bọc theo vườn Bách Thảo ở Sài G̣n, tên chữ B́nh Trị giang. Đời đàng cựu có bà Nguyễn Thị Khánh, con của Khâm sai Chánh thống Vân Trường hầu Nguyễn Cửu Vân, lấy chồng là một ông nghè, làm thơ lại ở Phan Trấn Định dưới trào Tả quân Lê Văn Duyệt, v́ nhà ở làng Thạnh Mỹ Tây, cách sở làm một con sông B́nh Trị, qua lại bằng đ̣ bất tiện, nên bà xuất tiền dạy bắc một cây cầu gỗ lim, người đồng thời cảm đức gọi “cầu và sông Bà Nghè”, nhưng các quan không chịu xưng như vậy và đổi lại là “cầu và sông hay rạch Thị Nghè”. (VHS)

-Đồng Ông Tố: Giồng Ông Tố. Tên chữ Hán là Lăo Tố cang, ở phía nam tỉnh Biên Ḥa, nay thuộc huyện Thủ Đức. G̣ nổng nổi lên đột ngột bằng thẳng chuyển quanh, trên giồng cây cối xanh tươi, bốn phía ruộng bằng rộng răi. Mặt trước có sông nhỏ từ hướng bắc ṿng quanh qua hướng nam thông với sông Tân B́nh đến sông Phước B́nh. (VHS trích theo Thượng Tân Thị)

-Cây da Thằng Mọi: Khỏi chợ Điều Khiển là đến chợ Cây Da Thằng Mọi. Gọi làm vậy nhưng khoan vội tưởng rằng đây là một nhà chợ do một người Mọi nào đó đứng ra xây cất. Sự thật là tại chợ này thường thấy bày một móin hàng không đâu có bán: ấy là một thứ đèn thắp dầu phộng hay dầu dừa làm bằng đất nung, nắn h́nh một người Chàm (ông Phỗng) hai chân quỳ, hai tay chắp lại, trên đầu đội một thếp dầu. (VHS)

-Cầu Cao Miên: Sách sử cổ cho biết người Cam Bốt có ở vùng Thị Nghè, vùng Cầu Bông, cổ danh gọi Cầu Cao Miên. Dẫn thêm Đại Nam nhất thống chí (Nguyễn Tạo dịch): Ở B́nh Dương, năm Tân Hợi quốc sơ (1731) vua nước Cao Man là Nặc Tha bị Nặc Sô đánh đuổi chạy qua Gia Đinh ở nương cậy chỗ đất khoáng đăng nơi thượng du con sông, mà chỗ ở lại cách sông, phải làm cầu ván qua lại, nên gọi là cầu Cao Man. (VHS)

-Cây Da C̣m: Học giả Trương Vĩnh Kư chép lại rằng xưa tại chỗ Khám Lớn cũ (nay Đại học Văn khoa) gần bên Ṭa Pháp đ́nh, thuở đó có một cái chợ tục danh “chợ Da C̣m”, tức là chợ nhóm dưới gốc một cây da nhánh c̣m, lá gie kḥm xuống mặt đất. (VHS)

-Cầu Khấc . Đường Nước Nhỉ . Chùa Cẩm Đệm: Đường Nước Nhỉ xét ra ở giữa đường đi Chợ Lớn, đầu này trở ra Bến Thành, mé ngoài là chợ Kim Chung, mé trong là xóm Cây Da Thằng Mọi. Cầu Khấc ngoài chợ Cầu Kho đi lên đường Nước Nhỉ nói trên. (Ư câu này) Cầu Khấc là nơi thị tứ, trẻ con có thể lạc đương. (VHS) Phía bắc của Bến Nghé là g̣ nổng ... Phía tây nam g̣ Tân Triêm (vùng thành Ô Ma cũ – sau đổi là thành Cộng Ḥa) tốt bậc nhất. Triêm là thấm ướt. Mội nước từ ḷng đấy chảy tươm lên quanh năm, dầm ướt quăng đường dài (khoảng đường Cống Quỳnh) gọi là đường Nước Nhỉ. Phú Thọ cao ráo, tên chữ Cẩm Sơn, gọi nôm na là g̣ Cẩm Đệm, khoảng góc đường Lạc Long Quân và Lê Đại Hành: mùa xuân, nền có non như gấm mướt xanh, hoa dại điểm vào như bức tranh thêu. (SN)

-Kho Cẩm Thảo: Cầu Kho là tên cây cầu bắc ngang qua con rạch ăn vào kho Giản Thảo, c̣n gọi là kho Cẩm Đệm, do Chúa Nguyễn đặt từ 1741, một trong chín kho ở rải rác vùng Đồng Nai – Cửu Long. Trên bản đồ Trần Văn Học năm 1815, kho Cẩm Thảo được vẽ rơ rệt, h́nh vuông, sông rạch bao bọc như một cù lao. Một phía rạch Vàm Bến Nghé, ba phía kia là rạch Bến Chiếu ăn qua Rạch Bần rồi chảy trở lên Rạch Bến Chùa. (SN)

-Chùa Kim Chương: Chùa Kim Chương quan trọng và đẹp nhất của Bến Nghé, cất từ năm 1755. Qua đời Tự Đức, trong Đại Nam nhất thống chí gọi chùa Thiên Trường. Klhi Pháp đến chùa này chẳng nghe nói tới, trong g̣ đất Ô Ma chỉ c̣n miễu Hội Đồng và đền Hiển Trung. (SN)

-Chợ Cây Vông: Chợ Cây Vông th́ ở lối nghĩa địa Đô Thành ngày nay ăn giáp tới Cầu Bông. Theo ông Trần Văn Học là ông quan đàng cựu có công vẽ ra bản đồ thành Sài G̣n thời ấy (1815) thi Cầu Bông trước kia gọi là cầu Cao Mên, sau đổi làm Cầu Hoa, rồi v́ húy tên một bà phi tần của đức Minh Mạng nên gọi Cầu Bông cho đến ngày nay. (VHS)

-Chợ Lớn: Tỉnh thứ 16 của Nam Kỳ thời Pháp thuộc. Năm 1956 bị lấy mộtr phần nhập với Gia Định, một phần nhập với Tân An làm ra tỉnh Long An, riêng thành phố Chợ Lớn buôn bán th́ nhập với Sài G̣n làm Đô thành Sài G̣n. Danh từ Chợ Lớn này nên hiểu là đă có từ trước khi Tây qua đây và lúc chưa có chợ Bến Thành như ngày nay. Psar Thom là chợ Sài G̣n đời trước và Psar Toc (chợ nhỏ) để gọi Chợ Quán. (VHS)

-Giếng Chùa Bà: Trên Chùa Bà (thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu) dọc đường lên Cầu Phố , xưa có một cái giếng, tục gọi nôm na “Giếng Chùa Bà” hoặc “Giếng Bộng”, có danh là nước tốt ngọt hiền nên các văn nhơn thuở ấy đặt là “Giếng Cam Tuyền”. (VHS)

-Chùa Ông Quan Đế: Từ con đường “Cháo Muối” (Đồng Khánh) xuống một con kinh, sau lấp đi biến thành đại lộ Tổng đốc Phương th́ có xóm người Minh Hương ...Đây là một xóm kỳ cựu nhất và hiệp với xóm Chùa Quan Vơ, đường Triệu Quang Phục, là trung tâm buôn bán của cựu Chợ Lớn ngày xưa. Phố Triệu Quang Phục ngày nay, bắt từ chùa Quan Đế chạy dài tận mé sông. Trong chùa có lên cốt tượng thờ đức Quan Công, thái tử Quan B́nh (?THÂ) và kẻ bề tôi trung tín là Châu Thương cùng ngựa Xích Thố. Vía đức Quan Đế vào ngày mười ba tháng giêng âm lịch ... C̣n một chùa Quan Đế khác nữa gọi là “Chùa Ông Nhỏ” để phân biệt với chùa đường Triệu Quang Phục là “chùa Ông Lớn”. Chùa này ở trên đường Nguyễn Huệ, dường như của người Triều Châu. (VHS)

-Chùa Ông Bổn: Người Hoa ở nước ngoài thờ nhà hàng hải Trịnh Ḥa như vị phúc thần, gọi là Tam Bảo Công hoặc Bổn Đầu Công, ta gọi mnơi thờ phượng ấy là chùa ông Bổn. (SN) – Đời Vĩnh Lạc (1403-1424) vua có sai ông thái giám Trịnh Ḥa cưỡi thuyền buồm dạo khắp các nước miền Đông Nam Á ban bố văn hóa Trung Hoa và luôn dịp mua về cho hoàng đế Minh triều những kỳ trân dị bửu. Trịnh Ḥa là nhà thám hiểm, du lịch, khảo cứu địa dư, ngoại giao, ngôn ngữ học, mỗi mỗi đều tài t́nh. Sau này ông mất dân ngoại kiều cảm đức sâu thờ làm phúc thần, vua sắc phong “Tam Bửu công” cũng gọi “Bổn Đầu công” (đọc giọng Tàu là Bủn Thầu Cúng) gọi tắt là “Ông Bổn”. (VHS)

-Bà Chúa Thai Sanh: Cách chùa Quan Đế một tấm vách có chùa “Tam Hội miếu” thờ bà Chúa Thai Sanh, coi về sanh đẻ. Nơi đây những người đàn bà hiếm con thường đến cầu nguyện về đường tử tức. Chùa lập năm 1839, gọi tắt là “Pḥ miếu” (miếu Bà). (VHS)

-Chùa Bà Mẫu Hậu: Ở góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trăi cũng có “Pḥ miếu” hoặc “Chùa Bà” nhưng đây thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Xét ra người Tàu thuở đầu qua đây, lúc ấy chưa có thuốc trị bệnh, nên họ tin nhiều ở sự phù hộ của thần thánh, đâu đâu đều có miếu thờ đức Quan Đế và bà Thiên Hậu. Về Chùa Bà, c̣n một ngôi chùa rất xưa ở góc đường Lê Văn Duyệt – Hồng Thập Tự, một chùa nữa ở tại mé sông chợ Cầu Ông Lănh. Thiên Hậu là bà Mi Châu sanh vào đời vua Tống Nhân Tông, là vị thần hộ mạng những người đi ngoài biển khơi. (VHS) – Đường Lê Văn Duyệt nay là Cách mạng tháng 8, đường Hồng Thập Tự nay là Vơ Thị Sáu.

-Chùa Cây Mai: Theo ông Trịnh Hoài Đức, chùa Cây Mai tên chữ là Thứu Linh tự, nguyên xây cất trên một nền chùa cổ Cao Miên, xung quanh có đào ao rộng và sâu, hồi xưa mỗi năm tại đây có tổ chức lễ đua ghe ngo. Dưới đời vua Minh Mạng chùa được tu bổ lại. Bấy lâu nghe đồn tại chùa có một gốc mai già bông trắng, từng trải mấy phen biến cố và đă làm đầu đề cho bài thơ “Vịnh Mai Sơn tự” của Tôn Thọ Tường. (VHS)

-Giếng Hàng Xáo: Trước khi vô đến Chợ Lớn, ngang Xóm Than, có một giếng gầm mé sông, tên gọi “Giếng hàng Xáo”, v́ dân đổi nước đem về nấu ăn vẫn đồn đăi và đua nhau đến giếng này giành giựt đổi chác ... (VHS)

-Cầu Đường: Ngày nay, rạch Chợ Lớn, cũng gọi rạch Cầu Đường biến thành đại lộ Gaudot ... (VHS) - Đường Gaudot sau 1954 đổi thành được Khổng Tử.

-Xóm Bột: Từ Chợ Quán trở vô Chợ Lớn th́ đầu tiên gặp “Xóm Bột”, ngày ngày phơi trắng dă tận lề đường những bột ḿ, bột đậu, bột lọc, bột khoai v.v...Đi tới nữa th́ gặp Chợ Hôm, nhóm lúc chiều tối. (VHS)

-Đồng Tập Trận: Hàng năm vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch Tả quân Lê Văn Duyệt duyệt binh. Dịp này người ta ra lệnh đ̣i hết các cơ binh đóng ở Lục Tỉnh về để Tả quân duyệt nơi khoảng đất trống gọi Đồng Tập Trận cũng gọi là “Mô Súng”. Từ vườn Bà Lớn (đường Phan Thanh Giản) ngó qua Trường Đua cũ, cánh Đồng Tập Trận ăn thông đến Xóm Lách, trên đường Yên Đổ. Sau khi dẹp loạn Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng ra lệnh giết khoảng 1.200 người (nam phụ lăo ấu) tại đây, vùi lấp, nên chỗ này gọi là “Mả Ngụy”. Ngày nay nhà cửa cất lấp bít bùng không c̣n nh́n được nơi nào. (VHS) – Dọc theo đường Trần Quốc Toản, lối Học viện Quốc gia Hàdnh chánh Sài G̣n (LVĐ) – Đường Phan Thanh Giản nay là Điện Biên Phủ, đường Yên Đổ là Lư Chính Thắng, đường Trần Quốc Toản nay là đường 3 tháng 2.

-Cầu Cây Gơ: Đoạn đường Minh Phụng bắc ngang qua Rạch Ḷ Gốm. có Cầu Cây Gơ. Cầu này khi xưa làm bằng sắt trên lót ván, từ năm 1924 được đúc lại bằng đá sạn. (VHS)

-Dăy Thầy Bói: Thuở ấy hai bên rạch Arroyo Chinois nhà sàn cất san sát, dân cư trù mật, nhưng khúc chợ sung túc hơn cả th́ ở vào khoảng từ Cột cờ Thủ Ngữ chạy đến Cầu Mống mút đường Công Lư, xóm này có tên riêng là “Dăy Thầy Bói”, cũng gọi là “Đường Thợ Tiện”. Đây là dăy nhà đẹp nhứt thuở “cựu trào”, phong lưu nhứt thời đó, vừa giàu vừa sang. (VHS) – Arroyo Chinois là rạch Ông Lănh, sông Ông Lănh.

* * *

Theo các ư kiến dẫn trên th́ bài Phú cổ Gia Định có lẽ được sáng tác sau năm 1819 và trước năm 1835. Như lời giới thiệu của Nguyễn Anh Tuấn, tác phẩm đă góp nhặt những cảnh tượng và nhân vật đất Sài G̣n – Chợ Lớn xưa khá đầy đủ.

Cảnh trí: Nào thành xây tám cửa, nhà ngói liệng đuôi lân, hiên x̣e cánh én, Chợ Quán, Nhà Bè, Đồng Nai, Bến Nghé, rạch Bà Nghè, đồng Ông Tố… Rồi cầu Cao Miên, cây Da C̣m, kho Cẩm Thảo, chùa Kim Cương, chợ Cây Vông, cầu Bà Thuông… Mỗi địa danh, giờ này không c̣n, nhưng đọc lên, âm hưởng cứ vang vọng đâu đây những “hồn ma cũ”.

Con người: Nhà đủ người no, nơi nơi vui thú, gái tay ṿng tay niểng, trai chân hán chân hài, dù vơng nghênh ngang, dưới bến trên tàu ca hát… Chốn chốn phong quang, nhà nhà lịch lăm… Nơi đây quy tụ đủ hạng dân, từ Miền Trung vào, tận bên Tàu qua: trọ trẹ dưới bến sông, xi xô ngang đường cái… Thờ kính cả các vị thần viễn xứ: chùa ông Quan Đế, miếu đức Thánh Nhơn…

Nghề nghiệp: Ḷ rèn, ḷ gốm, phố phường bày hàng hóa, nhà quê trồng bắp khoai, sinh hoạt tấp nập với ghe đen mũi ghe vàng mũi, tàu xanh mang tàu đỏ mang…

Việc học hành đă phát triển: chốn thi trường lẩy lẩy nho phong, nhà quốc học dày dày sĩ tử…

Và với tấm ḷng trung hậu, người dân Gia Định luôn luôn nhớ đến công ơn người xưa, các bậc tiền bối mở đất, hữu danh và vô danh: Coi chùa Ông Bổn đầu cân, dám quên chữ ngọn rau tấc đất. Thấy miếu Công Thần chư vị, chạnh nhớ câu niềm chúa nghĩa tôi.

Gia Định thành – Sài G̣n – Chợ Lớn – Lục Tỉnh Nam Kỳ… tự ngày xưa đă là một mảnh đất lành cho bao đàn chim Việt di trú về Phương Nam chọn cành làm tổ. Cho nên cả trong những bài phú với vần luật khắt khe vẫn t́m thấy ở đó chất dân gian hồn nhiển của người đi mở cơi:

Đến đâu gặp vịt cũng lùa,

Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu.
Trả lời với trích dẫn
The Following 4 Users Say Thank You to phale For This Useful Post:
Bùi Thúy Mùi (05-06-21), CM4Q (06-06-21), nguyenxuan (05-06-21), Nhím con (07-06-21)
Trả lời

Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 07:54 AM

© 2007 - 3.8.7 - BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ bài viết của thành viên.